DV01 hợp đồng tương lai Treasury: CTD và hệ số chuyển đổi
Tìm hiểu DV01 của hợp đồng tương lai Treasury đủ điều kiện giao liên hệ với CTD và hệ số chuyển đổi như thế nào, vì sao nó thay đổi và vì sao nó khác giá trị tick
Câu trả lời trực tiếp
Với một hợp đồng tương lai note hoặc trái phiếu U.S. Treasury tiêu chuẩn được báo giá theo giá và đủ điều kiện giao tài sản, DV01 hàm ý thuộc về sản phẩm và tháng giao được gọi tên. Tài liệu Treasury của CME liên hệ BPV hàm ý của hợp đồng với chứng khoán cheapest-to-deliver (CTD) hiện tại và hệ số chuyển đổi của chứng khoán đó: BPV của hợp đồng bằng BPV của CTD chia cho hệ số chuyển đổi của CTD. Đây không phải con số vĩnh viễn cho mọi futures Treasury hay tuyên bố trực tiếp về lãi, lỗ của tài khoản.
Bắt đầu bằng đúng sản phẩm và tháng của hợp đồng tương lai Treasury
“DV01 hợp đồng tương lai Treasury” chưa đầy đủ nếu không có đúng hợp đồng note hoặc trái phiếu tiêu chuẩn, báo giá theo giá, được giao tài sản và tháng giao. Hướng dẫn này không dùng cùng một mối quan hệ cho mọi futures liên quan đến Treasury. Yield futures thanh toán bằng tiền mặt, sản phẩm Micro và thiết kế hợp đồng của sản phẩm khác cần đặc tả riêng, không nên kế thừa công thức theo rổ giao.
Ghi sản phẩm, tháng-năm, trường báo giá, thời điểm định giá và liệu phép tính dựa trên thanh toán của sàn, trường thị trường trực tiếp hay một nguồn phân tích riêng. Hợp đồng tương lai Treasury là gì giải thích vì sao futures Treasury là hợp đồng sàn có ngày chứ không phải một mức phơi nhiễm chứng khoán tiền mặt không có ngày.
Rổ giao khiến chứng khoán CTD trở nên quan trọng
Một futures Treasury đủ điều kiện giao tiêu chuẩn có thể có một rổ chứng khoán tiền mặt đủ điều kiện. Kinh tế giao của bên short, không phải nhãn kỳ hạn chung chung, kết nối hợp đồng với chứng khoán cheapest-to-deliver hiện có liên quan. CTD phải được xác định trong sản phẩm, tháng giao và rổ đủ điều kiện được gọi tên.
Vì vậy, một tuyên bố như “futures 10-year DV01” không thể an toàn dùng CUSIP cũ hay một lợi suất Treasury chung. Hợp đồng tương lai Treasury cheapest-to-deliver giải thích bối cảnh rổ giao và vì sao nhãn CTD không gọi tên Treasury rẻ nhất trong mọi thị trường.
Dùng hệ số chuyển đổi trong mối quan hệ BPV hàm ý
Tài liệu Treasury của CME đưa ra mối quan hệ cho giá trị điểm cơ bản hàm ý của một hợp đồng futures Treasury tiêu chuẩn là BPV của CTD chia cho hệ số chuyển đổi của CTD. Hệ số chuyển đổi là đầu vào theo tháng giao, được gán cho một note hoặc trái phiếu tiền mặt đủ điều kiện. Nó chuẩn hóa một phần phép tính invoice giao; nó không phải thước đo độc lập của rủi ro lãi suất.
Mối quan hệ có thể viết là:
Implied BPV of the contract = BPV of the CTD security ÷ conversion factor of the CTD security
Hãy giữ công thức gắn với phạm vi của nó. Nó không xác lập DV01 cố định cho mọi tháng giao, chọn CTD hiện tại hay tính kết quả tài khoản. Số tiền invoice giao của hợp đồng tương lai Treasury tách các đầu vào hệ số chuyển đổi và lãi tích lũy dùng trong giao khỏi một nhãn độ nhạy chung.
Phép đo có thể thay đổi theo đầu vào và thời điểm quan sát
Hướng dẫn Treasury Analytics của CME mô tả giá trị lợi suất và DV01 dựa trên giá thanh toán futures và dữ liệu CTD hiện tại, đồng thời lưu ý rằng lợi suất và DV01 có thể thay đổi khi giá dịch chuyển lớn hơn khỏi giá thanh toán. Vì vậy, rổ đủ điều kiện giao hiện tại, lựa chọn CTD, hệ số chuyển đổi, hồ sơ giá tiền mặt, trường giá futures, đường cong lợi suất và tháng giao đều có thể quan trọng với một kết quả cụ thể.
Đừng chép CUSIP, hệ số chuyển đổi, DV01 hay số lượng hợp đồng từ ví dụ lịch sử vào báo cáo hiện tại. Hãy dùng tài liệu sản phẩm hiện hành và hồ sơ đo lường đã xác định. Giá hợp đồng tương lai Treasury so với lợi suất giải thích vì sao hồ sơ futures báo giá theo giá không phải lợi suất của một chứng khoán tiền mặt cố định vĩnh viễn.
Giữ DV01 tách biệt với bước giá và kết quả vị thế
Tick Treasury futures được báo giá là một đặc tả hợp đồng về bước giá tối thiểu. DV01 là độ nhạy theo kịch bản lợi suất của một hồ sơ định giá. Không bên nào thay thế được bên kia, và không bên nào tự nó cho ra số lượng vị thế đúng cho một mức phơi nhiễm tiền mặt.
DV01 và BPV cung cấp hồ sơ đo lường chung cần lưu. Giá trị tick và hệ số nhân hợp đồng tương lai giữ phía bước giá của hợp đồng futures tách biệt. Nếu câu hỏi tiếp theo là cách so sánh hai độ nhạy đã chuẩn hóa, hãy dùng Tỷ lệ phòng hộ hợp đồng tương lai Treasury theo DV01. [!TRYMARK] Lưu các đầu vào phía sau DV01 hợp đồng tương lai Treasury Ghi sản phẩm, tháng, nguồn và thời điểm, trường giá futures, nguồn rổ đủ điều kiện, mã CTD, đơn vị BPV của CTD, hệ số chuyển đổi, quy ước tính và BPV hàm ý thu được. Tính lại hoặc gắn nhãn lại kết quả khi bất kỳ đầu vào nào thay đổi.
Hướng dẫn này mô tả khung độ nhạy của hợp đồng. Nó không xác định CTD hiện tại, công bố DV01 hiện tại, khuyến nghị vị thế futures Treasury hay khuyến nghị phòng hộ. Quy tắc sàn, dữ liệu thị trường hiện hành, phương pháp định giá và yêu cầu tài khoản chi phối vị thế thực tế.
Câu hỏi thường gặp
DV01 hợp đồng tương lai Treasury có giống giá trị tick cố định không?
Không. Giá trị tick gắn với bước giá tối thiểu trong đặc tả hợp đồng. DV01 là độ nhạy theo kịch bản lợi suất dùng một hồ sơ định giá và, trong phạm vi này, các đầu vào giao.
Mọi futures liên quan đến Treasury có dùng CTD chia cho hệ số chuyển đổi không?
Không. Mối quan hệ này giới hạn ở futures note hoặc trái phiếu U.S. Treasury tiêu chuẩn, báo giá theo giá và đủ điều kiện giao tài sản. Thiết kế sản phẩm khác cần đặc tả hợp đồng và quy tắc tính riêng.
Vì sao hệ số chuyển đổi quan trọng?
Với một futures Treasury đủ điều kiện giao tiêu chuẩn, CME dùng hệ số chuyển đổi của CTD trong mối quan hệ BPV hàm ý. Hệ số gắn với một chứng khoán đủ điều kiện và tháng giao, không phải nhãn duration phổ quát.
Chứng khoán CTD có thể thay đổi không?
Đánh giá CTD liên quan thuộc về hợp đồng, tháng giao và rổ đủ điều kiện được gọi tên. Một phép tính hiện tại nên dùng hồ sơ hiện tại đã xác định, không giả định ví dụ lịch sử vẫn áp dụng.
DV01 hàm ý của futures Treasury có dự đoán kết quả tài khoản của tôi không?
Không. Đây là thước đo độ nhạy dưới các đầu vào đã nêu. Hướng vị thế, số lượng, giá thay đổi, ký quỹ, thực hiện, tài trợ và các điều kiện khác có thể ảnh hưởng đến kết quả tài khoản.