Chiến lược quyền chọn call ratio spread
Tìm hiểu lợi nhuận của call ratio spread 1-by-2, lợi nhuận tối đa, điểm hòa vốn khi có debit và credit, lỗ chiều tăng không giới hạn, Greeks, margin và rủi ro assignment
Câu trả lời trực tiếp
Một call ratio spread phổ biến mua một call strike thấp hơn và bán hai call strike cao hơn với cùng kỳ hạn. Có thể xem nó là bull call spread cộng với một call bán không được bảo vệ. Lợi nhuận tối đa tại đáo hạn xảy ra ở strike cao hơn và bằng độ rộng strike cộng credit lúc mở, hoặc trừ debit lúc mở. Trên mức đó, call bán thêm khiến lợi nhuận giảm từng dollar và cuối cùng tạo lỗ chiều tăng không giới hạn. Credit nhỏ không khiến chiến lược trở thành rủi ro xác định. Tỷ lệ hợp đồng, giá có thể thực hiện, Greeks thay đổi, margin, assignment sớm và bất định tại đáo hạn đều phải được mô hình hóa trước khi vào lệnh.
Call ratio 1-by-2 để lại một call không được bảo vệ
Mua một call ở strike thấp K1 và bán hai call ở strike cao K2, trong đó K2 cao hơn K1. Một call bán ghép với call mua; call còn lại không được bảo vệ.
Gọi toàn bộ vị thế là spread có thể che giấu nghĩa vụ còn lại này. Tài khoản phải được phê duyệt và cấp vốn cho call không được bảo vệ, trừ khi các khoản nắm giữ khác cung cấp bảo vệ được công nhận.
Lợi nhuận tối đa nằm tại strike của call bán
Tại K2 khi đáo hạn, call strike thấp có giá trị bằng K2 trừ K1 và cả hai call strike cao đáo hạn không có giá trị nội tại. Lợi nhuận tối đa là độ rộng đó cộng credit ròng, hoặc trừ debit ròng.
Dưới K1, mọi quyền chọn đều đáo hạn vô giá trị, để lại credit lúc mở là lợi nhuận hoặc debit là khoản lỗ. Giữa các strike, call mua tăng giá trị nội tại.
Vào lệnh bằng debit và credit làm thay đổi điểm hòa vốn
Với credit ròng, điểm hòa vốn trên tại đáo hạn là K2 cộng độ rộng strike cộng credit. Với debit ròng, điểm này là K2 cộng độ rộng trừ debit, và một điểm hòa vốn dưới cũng xuất hiện tại K1 cộng debit.
Phí và trượt giá làm thay đổi các giá trị này. Tỷ lệ khác, độ rộng không bằng nhau hoặc lần chuyển lệnh sau đó cần một hàm lợi nhuận từng đoạn mới thay vì dùng lại công thức 1-by-2.
Rủi ro chiều tăng tăng tốc sau đỉnh
Trên K2, hai call bán tăng nghĩa vụ trong khi chỉ có một call mua. Khi khoản lợi nhuận tối đa đã bị tiêu hết, lỗ tiếp tục tăng mà không có trần hợp đồng khi tài sản cơ sở tăng.
IV tăng có thể làm tăng lỗ mark-to-market và yêu cầu buying power trước khi đạt điểm hòa vốn trên. Delta ròng, gamma, theta và vega cũng thay đổi theo giá hiện tại và thời gian.
Assignment có thể tách gói vị thế dự kiến
Một trong hai call bán kiểu American có thể bị assignment sớm, đặc biệt quanh cổ tức, trong khi call còn lại và call mua vẫn mở. Exercise call mua có thể làm mất giá trị thời gian và tạo mức phơi nhiễm cổ phiếu tạm thời.
Hãy lập kế hoạch cho nghĩa vụ cổ phiếu chính xác sau một hoặc hai assignment, ngày cổ tức, khoản dự trữ margin, kịch bản gap và lệnh đóng nhiều chân. Call backspread đảo ngược sự mất cân bằng số lượng và có bản đồ rủi ro khác.
Câu hỏi thường gặp
Lợi nhuận tối đa của call ratio spread là bao nhiêu?
Với vị thế 1-by-2, đó là độ rộng strike cộng credit ròng hoặc trừ debit ròng, đạt được tại strike cao hơn khi đáo hạn.
Call ratio spread có thể lỗ không giới hạn không?
Có. Khi số call bán nhiều hơn call mua, lỗ ròng tăng mà không có trần cố định sau khi tài sản cơ sở vượt điểm hòa vốn trên.
Call ratio spread có luôn mở với credit không?
Không. Báo giá, strike, biến động và tỷ lệ quyết định nó bắt đầu với credit hay debit, đồng thời cũng thay đổi số lượng điểm hòa vốn.
Nếu chỉ một call bán bị assignment thì sao?
Tài khoản có thể trở thành vị thế bán khống cổ phiếu trong khi vẫn giữ một call bán và một call mua. Vị thế còn lại phải được quản lý riêng.