Long call và bull call spread
So sánh khả năng tăng giá không giới hạn, chi phí vào lệnh, điểm hòa vốn và khoản hoàn trả có giới hạn của hai vị thế quyền chọn tăng giá
Câu trả lời trực tiếp
Long call mua một call và giữ phần tăng giá trên điểm hòa vốn, trong khi bull call spread mua call giá thực hiện thấp hơn và bán call giá thực hiện cao hơn với cùng ngày đáo hạn. Call bán làm giảm khoản ghi nợ ròng nhưng giới hạn khoản hoàn trả khi đáo hạn. Không vị thế nào đảm bảo có lãi, và cả hai đều có thể mất phí quyền chọn nếu cổ phiếu không biến động đủ trước khi đáo hạn
Khoản ghi nợ thay đổi ngưỡng cần vượt qua
Điểm hòa vốn khi đáo hạn của long call là giá thực hiện cộng phí đã trả. Bull call spread dùng khoản ghi nợ ròng, có thể làm giảm điểm hòa vốn nhưng cũng thay đổi khoản hoàn trả tối đa có thể có. Giá báo là trên mỗi cổ phiếu trước hệ số nhân hợp đồng và chi phí
Giả sử call giá thực hiện 100 có giá 6.50. Điểm hòa vốn khi đáo hạn là 106.50 và một hợp đồng tiêu chuẩn chịu rủi ro khoảng 650 trước chi phí. Nếu call giá thực hiện 110 có giá 2.50 và được bán đối ứng, khoản ghi nợ của spread là 4.00, điểm hòa vốn là 104, còn lợi nhuận tối đa dự kiến là 6.00 trên mỗi cổ phiếu, hay 600 cho mỗi hợp đồng. Spread hạ ngưỡng tiền mặt đi 2.50 nhưng từ bỏ lợi nhuận trên 110
Ở mức giá đóng cửa khi đáo hạn là 108, call độc lập có giá trị nội tại 8.00 và lợi nhuận xấp xỉ 1.50 trên mỗi cổ phiếu trước chi phí. Spread có giá trị 8.00 nhưng chỉ có lợi nhuận ròng 4.00 trên mỗi cổ phiếu sau khoản ghi nợ. Ở 120, call tiếp tục tăng còn spread bị giới hạn ở lợi nhuận tối đa 6.00
Trần lợi nhuận là một phần của giao dịch
Trên giá thực hiện của call bán, lợi nhuận của call mua bị bù bởi khoản lỗ trên call bán. Giá trị tối đa của spread khi đáo hạn là độ rộng giữa các giá thực hiện, nên lợi nhuận tối đa là độ rộng trừ khoản ghi nợ ròng. Long call độc lập không có trần tăng giá như vậy
So sánh trên cùng cơ sở
Dùng cùng giá cổ phiếu, ngày đáo hạn và mục tiêu được nêu rõ khi so sánh. Spread rẻ hơn không tự động tốt hơn nếu mục tiêu nằm trên giá thực hiện của call bán; call không giới hạn cũng không tự động tốt hơn nếu khoản ghi nợ bổ sung quá lớn so với kế hoạch
Danh sách kiểm tra long call và bull call spread:
- Giữ cố định tài sản cơ sở, ngày đáo hạn, số lượng, hệ số nhân và mục tiêu - Ghi lại phí của giao dịch độc lập, khoản ghi nợ của spread, cả hai điểm hòa vốn và khoản lỗ tối đa - Kiểm tra kịch bản đóng cửa dưới giá thực hiện mua, gần mục tiêu và trên giá thực hiện bán - So sánh IV, theta, delta, vega, chênh lệch bid-ask và chi phí đóng từng cấu trúc - Quyết định liệu mục tiêu có biện minh cho khoản hoàn trả bị giới hạn của spread hay khoản ghi nợ lớn hơn của call [!TRYMARK] Điểm kiểm tra so sánh tăng giá TryMark Giữ giá thực hiện, khoản ghi nợ, điểm hòa vốn, ngày mục tiêu, kịch bản IV, độ rộng báo giá và quy tắc thoát của cả hai cấu trúc cùng nhau trong một Path. Kiểm tra lại so sánh sau một khoảng nhảy giá hoặc một lần roll [!WARNING] Khoản ghi nợ thấp hơn không có nghĩa là chi phí cơ hội thấp hơn Spread có thể đạt điểm hòa vốn sớm hơn nhưng ngừng tăng trên giá thực hiện bán. Call độc lập có thể mất nhiều phí hơn trong khi vẫn giữ khả năng tăng giá. Hãy so sánh toàn bộ khoản hoàn trả và thanh khoản, không chỉ tiền mặt vào lệnh
Câu hỏi thường gặp
Long call hay bull call spread có điểm hòa vốn thấp hơn?
Điều đó phụ thuộc vào phí thực tế. Trong ví dụ, long call hòa vốn ở 106.50 còn spread ở 104 vì call bán làm giảm khoản ghi nợ. Ngưỡng thấp hơn của spread đi kèm lợi nhuận tối đa bị giới hạn trên giá thực hiện bán
Khi nào long call phù hợp hơn bull call spread?
Long call có thể phù hợp khi mục tiêu cao hơn đáng kể so với giá thực hiện bán, khi khả năng tăng giá không giới hạn quan trọng hoặc khi khoản ghi nợ bổ sung có thể chấp nhận. Spread có thể phù hợp khi mục tiêu rõ ràng và chi phí vào lệnh thấp hơn quan trọng hơn. Cả hai đều cần xem xét thời gian và IV
Bull call spread có thể lỗ nhiều hơn long call không?
Khoản ghi nợ khi đáo hạn dự kiến thường thấp hơn đối với spread, nhưng kết quả tài khoản phụ thuộc vào số lượng, khớp lệnh, việc được chỉ định, chi phí và mức tiếp xúc tạm thời với cổ phiếu. Hãy so sánh toàn bộ vị thế thay vì giả định phí thấp hơn luôn đồng nghĩa tổng rủi ro thấp hơn