Tính Lãi suất Hàm ý của Box Spread
Tính lãi suất hàm ý đơn giản hoặc liên tục của box spread từ độ rộng strike, giá box có thể thực hiện, số ngày đến đáo hạn, hệ số nhân, phí và quy ước lãi suất.
Câu trả lời trực tiếp
Với long box kiểu châu Âu, gọi W là payoff cố định khi đáo hạn bằng strike cao hơn trừ strike thấp hơn, B là khoản ghi nợ ròng có thể thực hiện hôm nay và T là phần năm đến ngày thanh toán. Lãi suất hàm ý năm hóa đơn giản xấp xỉ (W / B - 1) / T; lãi suất ghép liên tục là ln(W / B) / T. Nhân cả W và B với cùng hệ số nhân hợp đồng hoặc giữ cả hai ở điểm báo giá—tỷ lệ không đổi. Với short box, B là khoản tiền thu được và W là khoản phải trả, nên cùng phép so sánh tăng trưởng mô tả chi phí vay trước phí. Phép tính chỉ hợp lệ sau khi căn chỉnh phía giá, day count, ngày thanh toán, chi phí và quy ước compounding.
Bắt đầu với payoff cố định và giá có thể thực hiện
Nếu các strike là K1 và K2, W bằng K2 trừ K1 trên mỗi đơn vị báo giá. Box 1,000 điểm với hệ số nhân 100 có dòng tiền $100,000 khi đáo hạn.
Dùng giá complex-order có sẵn theo hướng của bạn: ask hoặc debit khi mua, bid hoặc credit khi bán. Cộng bốn midpoint đã cũ có thể tạo ra một mức lãi suất không thể giao dịch.
Annualization đơn giản mở rộng lợi suất nắm giữ
Lợi suất trong thời gian nắm giữ của long box là (W - B) / B. Với D ngày thực tế và quy ước Actual/365, lãi suất năm đơn giản là ((W - B) / B) × (365 / D).
Ví dụ, trả 990 cho payoff 1,000 trong 90 ngày cho khoảng 1.0101% trong giai đoạn và gần 4.10% annualized đơn giản trước chi phí.
Quy ước compounding làm thay đổi con số báo giá
Lãi suất năm liên tục là ln(W / B) / T. Lãi suất năm hiệu dụng ghép lợi suất trong thời gian nắm giữ theo 1/T, trong khi lợi suất money-market và bond-equivalent có thể dùng các mẫu số khác.
Không có một “box rate” duy nhất áp dụng cho mọi trường hợp. Hãy nêu Actual/360 hoặc Actual/365, ngày thanh toán, phương pháp đơn giản hay ghép lãi, và output là lợi suất cho vay hay chi phí vay.
Phí và tài sản thế chấp thuộc về phép so sánh
Trừ hoa hồng, phí sàn và slippage dự kiến khỏi giá trị cuối của long box hoặc cộng chúng vào khoản ghi nợ. Với short box, giảm khoản tiền thu được có thể sử dụng và bao gồm chi phí trả nợ và đóng vị thế.
Chi phí cơ hội của tài sản thế chấp, lãi suất nhà môi giới trên số dư tiền mặt, thuế và việc không thể rút tiền thu được có thể lấn át lợi thế nhỏ trên tiêu đề so với một mức lãi suất khác.
Giá trị thị trường có thể thay đổi sau khi lãi suất được cố định
Nếu lãi suất thị trường tăng, giá trị hiện tại của payoff cố định thường giảm, gây bất lợi cho long box được mark hoặc đóng sớm và có lợi cho phía short trước khi hoàn trả. Lãi suất giảm đảo ngược hướng đó.
Nắm giữ đến đáo hạn kiểu châu Âu duy trì payoff hợp đồng, nhưng thanh lý, ký quỹ, thanh toán và sự kiện thuế có thể khiến thời hạn dự kiến không được thực hiện.
Câu hỏi thường gặp
Payoff cố định trong công thức box-rate là gì?
Đó là chênh lệch giữa strike cao hơn và thấp hơn, nhân với hệ số nhân hợp đồng của các chân kiểu châu Âu khớp nhau.
Nên dùng bid, ask hay midpoint?
Dùng giá package có thể thực hiện một cách thực tế: thường là ask cho long box và bid cho short box, sau đó đưa phí vào.
Vì sao box rate tôi tính khác một nguồn khác?
Timestamp của giá, ngày thanh toán, day count, compounding, chi phí giao dịch và phía cho vay so với đi vay có thể khác nhau.
Khóa lãi suất hàm ý có loại bỏ rủi ro mark-to-market không?
Không. Số tiền cuối kỳ cố định, nhưng giá trị trung gian của box thay đổi theo lãi suất và thanh khoản.