Skip to content
Tất cả hướng dẫn quyền chọn
Ngân sách và nợ liên bang Hoa KỳĐọc trong 10 phút

Thâm hụt ngân sách liên bang Hoa Kỳ khác nợ quốc gia như thế nào?

Phân biệt thâm hụt ngân sách hằng năm với khoản nợ liên bang tích lũy, thâm hụt sơ cấp và tỷ lệ nợ trên GDP qua các ví dụ giả định

Trong hướng dẫn nàyThâm hụt và nợ khác nhau ở điểm nào?

Tóm tắt ngắn

Thâm hụt ngân sách liên bang Hoa Kỳ là phần chi tiêu trong một năm tài khóa vượt quá khoản thu. Nợ liên bang là khoản vay tích lũy còn chưa trả vào một ngày cụ thể. Thâm hụt đo một dòng phát sinh trong cả kỳ; nợ đo số dư tại một thời điểm. Thâm hụt thường làm nợ tăng, nhưng mức thay đổi của nợ không phải lúc nào cũng đúng bằng thâm hụt hằng năm.

Thâm hụt và nợ khác nhau ở điểm nào?

Thâm hụt trả lời câu hỏi chính phủ liên bang đã chi nhiều hơn thu bao nhiêu trong một năm tài khóa. Nợ trả lời câu hỏi tại một ngày nhất định chính phủ vẫn còn bao nhiêu khoản vay chưa thanh toán. Vì vậy, thâm hụt là một dòng phát sinh theo thời gian, còn nợ là một số dư tại một thời điểm.

Trong ngân sách liên bang Hoa Kỳ, thâm hụt được tính bằng tổng chi ngân sách (outlays) trừ doanh thu (revenues). Nếu doanh thu cao hơn chi tiêu thì ngân sách thặng dư, thường làm giảm nhu cầu vay. Văn phòng Ngân sách Quốc hội Hoa Kỳ giải thích các khái niệm này trong [hướng dẫn thuật ngữ ngân sách phổ biến]({source:cboCommonBudgetaryTerms}); [bảng thuật ngữ quy trình ngân sách liên bang của GAO]({source:gaoFederalBudgetGlossary}) cũng định nghĩa thâm hụt là phần chi vượt thu trong một kỳ.

Trong bài này, “nợ quốc gia” được dùng theo nghĩa nợ của chính phủ liên bang Hoa Kỳ. Khái niệm này không tự động bao gồm nợ của tiểu bang, thành phố, doanh nghiệp hay hộ gia đình.

Một bể trong suốt giữ mực nước đã tích lũy; một dòng nhỏ chảy vào và một dòng khác chảy ra.
Mực nước gợi một lượng tích lũy, còn các dòng nước gợi luồng trong một kỳ; đây là phép so sánh, không phải dữ liệu nợ liên bang.

Tính thâm hụt hằng năm như thế nào?

Giả sử, chỉ để minh họa, trong một năm tài khóa chính phủ liên bang thu được 5,0 nghìn tỷ đô la và chi tổng cộng 5,6 nghìn tỷ đô la. Tất cả các con số dưới đây đều là giả định:

Thâm hụt = chi tiêu − doanh thu = 5,6 − 5,0 = 0,6 nghìn tỷ đô la

Khoản giả định trong năm tài khóaSố tiền
Doanh thu5,0 nghìn tỷ đô la
Tổng chi tiêu5,6 nghìn tỷ đô la
Thâm hụt0,6 nghìn tỷ đô la

Kết quả này đo dòng ngân sách trong một năm, không phải tổng khoản nợ của quốc gia. Khi đọc số liệu thực tế, hãy kiểm tra nguồn định nghĩa chi tiêu và doanh thu ra sao: khoản đã giải ngân, nghĩa vụ phải trả và thẩm quyền chi ngân sách là các khái niệm kế toán khác nhau.

Thâm hụt sơ cấp là gì?

Thâm hụt sơ cấp là thâm hụt ngân sách sau khi loại chi phí lãi ròng. Có thể tính bằng tổng thâm hụt trừ chi phí lãi ròng, hoặc lấy chi tiêu không tính lãi trừ doanh thu. Cách tách này giúp xem riêng cân đối thu chi của các chương trình và hoạt động khác, không tính tiền lãi của nợ.

Tiếp tục ví dụ giả định ở trên, nếu 0,4 nghìn tỷ đô la trong tổng chi là chi phí lãi ròng:

Thâm hụt sơ cấp = thâm hụt tổng − lãi ròng = 0,6 − 0,4 = 0,2 nghìn tỷ đô la

Có thể kiểm tra lại theo cách khác: chi tiêu không tính lãi là 5,6 − 0,4 = 5,2 nghìn tỷ đô la; lấy 5,2 trừ doanh thu 5,0 thì còn thâm hụt sơ cấp 0,2 nghìn tỷ. CBO định nghĩa thâm hụt sơ cấp là tổng thâm hụt ngân sách loại trừ chi ròng cho lãi vay ([định nghĩa của CBO]({source:cboPrimaryDeficitDefinition})). Đây là cách phân tích ngân sách hằng năm, không phải một loại nợ riêng.

Thâm hụt làm thay đổi số dư nợ ra sao?

Chính phủ liên bang thường vay để tài trợ phần chi tiêu vượt quá doanh thu. Vì thế, thâm hụt qua các năm thường cộng dồn vào nợ liên bang. Tuy nhiên, thay đổi của nợ trong một năm không nhất thiết bằng đúng thâm hụt của năm đó. Số dư tiền mặt của Bộ Tài chính, các chương trình tín dụng và những giao dịch tài trợ khác cũng có thể ảnh hưởng đến nợ.

Một ví dụ giả định thứ hai cho thấy sự khác nhau. Giả sử nợ do các chủ thể bên ngoài chính phủ liên bang nắm giữ là 20,0 nghìn tỷ đô la vào đầu kỳ; thâm hụt trong kỳ là 0,6 nghìn tỷ và nhu cầu tài trợ khác là 0,1 nghìn tỷ:

Nợ giả định do bên ngoài chính phủ nắm giữ cuối kỳ = 20,0 + 0,6 + 0,1 = 20,7 nghìn tỷ đô la

Số dư đầu kỳ, thâm hụt, khoản tài trợ khác và kết quả đều là giả định. Trong ví dụ này, 0,1 nghìn tỷ đô la là yếu tố tài trợ riêng, không phải một phần của thâm hụt ngân sách. CBO cho biết nợ do công chúng nắm giữ chủ yếu phản ánh thâm hụt ngân sách tích lũy, nhưng số dư tiền mặt và các chương trình tín dụng cũng có thể ảnh hưởng ở mức nhỏ hơn ([tổng quan về nợ liên bang của CBO]({source:cboFederalDebtPrimer})).

Nợ do công chúng nắm giữ khác tổng nợ liên bang thế nào?

Có nhiều cách đo nợ liên bang. Nợ do công chúng nắm giữ (debt held by the public) là khoản nợ do các chủ thể bên ngoài chính phủ liên bang nắm giữ. Nhóm này có thể gồm cá nhân, doanh nghiệp, chính quyền tiểu bang và địa phương, Cục Dự trữ Liên bang và người nắm giữ nước ngoài. “Công chúng” ở đây không chỉ có nghĩa là từng người dân.

Tổng nợ liên bang (gross debt) gồm nợ do công chúng nắm giữ cộng với chứng khoán Kho bạc do các tài khoản liên bang và quỹ tín thác nắm giữ, tức khoản nợ nội bộ chính phủ. Trước khi dùng một con số, hãy xác định nguồn đang báo cáo thước đo nào. CBO thường dùng nợ do công chúng nắm giữ trong các báo cáo ngân sách ([cẩm nang về nợ liên bang của CBO]({source:cboFederalDebtPrimer})).

Bộ dữ liệu [Debt to the Penny của Bộ Tài chính]({source:treasuryDebtToThePenny}) hằng ngày tách riêng nợ do công chúng nắm giữ, khoản nắm giữ nội bộ chính phủ và tổng nợ công đang lưu hành. [Các bảng nợ liên bang năm tài khóa 2024 của GAO]({source:gaoSchedulesFederalDebt2024}) cũng trình bày riêng số dư đầu kỳ, các khoản tăng giảm và số dư cuối kỳ cho những nhóm này. Chúng liên quan nhưng không thể dùng thay thế cho nhau.

Đọc tỷ lệ nợ trên GDP như thế nào?

CBO thường biểu thị thâm hụt và nợ bằng tỷ lệ phần trăm của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) để so với quy mô nền kinh tế. Khi nêu tỷ lệ, hãy xác định tử số là loại nợ nào và đo vào ngày nào. Ví dụ, tử số có thể là nợ do công chúng nắm giữ vào cuối năm tài khóa. Mẫu số là GDP danh nghĩa trong năm, tức giá trị sản lượng trong cả kỳ theo giá hiện hành. Tỷ lệ này so một khoản nợ tại một thời điểm với dòng sản lượng trong một năm; nó không có nghĩa khoản nợ phải hoặc có thể được trả trong một năm.

Trong ví dụ giả định trước đó, giả sử nợ do công chúng nắm giữ cuối kỳ là 20,7 nghìn tỷ đô la và GDP danh nghĩa của năm tương ứng là 25,0 nghìn tỷ:

Nợ do công chúng nắm giữ / GDP danh nghĩa năm = 20,7 / 25,0 × 100 = 82,8%

Mọi số tiền trong phép tính này đều là giả định. Khi so sánh các năm, hãy kiểm tra nợ được đo đầu hay cuối năm, dùng nợ do công chúng nắm giữ hay tổng nợ liên bang, và GDP thuộc kỳ nào. Tỷ lệ này không có một ngưỡng “an toàn” chung áp dụng cho mọi hoàn cảnh; cách diễn giải phụ thuộc vào bối cảnh và câu hỏi cần trả lời. CBO giải thích cách so nợ và thâm hụt với GDP trong [hướng dẫn thuật ngữ ngân sách]({source:cboCommonBudgetaryTerms}).

Trần nợ theo luật giới hạn điều gì?

Trần nợ là giới hạn pháp lý về tổng khoản nợ liên bang mà Bộ Tài chính được phép duy trì chưa thanh toán. Gần như toàn bộ tổng nợ liên bang thuộc phạm vi giới hạn này. Trần nợ hạn chế thẩm quyền vay để tài trợ nghĩa vụ của chính phủ, chứ không phải công thức tạo ra thâm hụt.

Thâm hụt phát sinh khi chi tiêu trong một kỳ vượt doanh thu. Trần nợ liên quan đến số dư nợ tại một ngày và thẩm quyền của Bộ Tài chính để tài trợ các nghĩa vụ liên bang. Vì vậy, nâng hoặc đình chỉ trần nợ tự nó không có nghĩa Quốc hội đồng thời thay đổi thuế hay chi tiêu. Có thể xem thêm [cẩm nang nợ liên bang của CBO]({source:cboFederalDebtPrimer}) và [bảng thuật ngữ ngân sách của GAO]({source:gaoFederalBudgetGlossary}).

Cách đọc số liệu ngân sách mà không nhầm lẫn

Trước khi tính, hãy ghi lại bốn thông tin: thâm hụt thuộc năm tài khóa nào, nợ được đo vào ngày nào, dùng định nghĩa nợ nào và GDP ở mẫu số thuộc năm nào. Kiểm tra đơn vị tiền tệ và luôn tách các ví dụ giả định khỏi số liệu báo cáo thực tế.

Đồng thời, đừng trộn dòng tiền trong ngân sách, nghĩa vụ phải trả và số dư nợ tại một thời điểm. Tổng chi trong năm không thể đọc trực tiếp thành tổng nợ cuối năm nếu chưa xét các giao dịch tài trợ và thay đổi tiền mặt. Để đặt số liệu ngân sách trong bối cảnh sản lượng, đọc thêm GDP danh nghĩa và GDP thực; về thị trường lao động xem tỷ lệ thất nghiệp U-3 và U-6; còn về tín hiệu từ lãi suất thị trường, xem đường cong lợi suất đảo ngược và tín hiệu suy thoái.

Câu hỏi thường gặp

Q1Thâm hụt ngân sách liên bang và nợ liên bang có phải là một?

Không. Thâm hụt là phần chi vượt thu trong một năm tài khóa. Nợ là khoản vay tích lũy còn chưa thanh toán tại một ngày cụ thể.

Q2Nợ do công chúng nắm giữ có phải toàn bộ tổng nợ liên bang không?

Không. Nợ do công chúng nắm giữ là khoản nợ thuộc về các chủ thể bên ngoài chính phủ liên bang. Tổng nợ liên bang cộng thêm chứng khoán Kho bạc do các tài khoản chính phủ nắm giữ.

Q3Trần nợ có gây ra thâm hụt ngân sách không?

Không. Thâm hụt phát sinh khi chi vượt thu; trần nợ là giới hạn pháp lý về khoản nợ liên bang còn chưa thanh toán.

Nguồn và tài liệu đọc thêm

Báo lỗi

Chúng tôi sẽ soạn email kèm liên kết bài viết này. Mark chỉ nhận được báo cáo sau khi bạn gửi email

Kiểm tra nhanh

Đọc xong hướng dẫn? Hãy kiểm tra với 3 câu hỏi

Câu hỏi 1 / 3

Câu hỏi 01

Trong một năm tài khóa giả định, doanh thu là 5,0 nghìn tỷ đô la và chi tiêu là 5,6 nghìn tỷ. Thâm hụt bằng bao nhiêu?

Chọn một đáp án để xem giải thích

Bảng thuật ngữ quyền chọn

Định nghĩa rõ ràng về các thuật ngữ cốt lõi, từ call, put và chuỗi quyền chọn đến IV, Greeks, lãi suất mở và max pain

Xem bảng thuật ngữ quyền chọn
Kinh tế vĩ môThâm hụt ngân sách và tài khoản vãng lai: Chúng liên hệ ra sao?Phân biệt thâm hụt ngân sách với thâm hụt tài khoản vãng lai, hiểu đồng nhất thức tiết kiệm–đầu tư và vì sao chúng không đi cùng tỷ lệ một-một.GDP và tăng trưởng kinh tế Hoa KỳGDP danh nghĩa và GDP thực khác nhau thế nào?Tìm hiểu vì sao GDP danh nghĩa thay đổi theo giá, GDP thực đo khối lượng sản lượng ra sao và cách đọc tốc độ tăng trưởng.Kinh tế vĩ mô Hoa KỳĐường cong lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ đảo ngược là gì và báo hiệu suy thoái hữu ích đến đâu?Tìm hiểu đường cong lợi suất Kho bạc Mỹ đảo ngược, so sánh chênh lệch 10 năm–2 năm và 10 năm–3 tháng, cùng giới hạn của tín hiệu suy thoáiThị trường lao động Hoa KỳTỷ lệ thất nghiệp U-3 và U-6 khác nhau thế nào?Tìm hiểu U-3 và U-6 tính những nhóm nào, vì sao U-6 gồm cả người làm bán thời gian vì lý do kinh tế, và chênh lệch giữa hai tỷ lệ không chỉ phản ánh số người nản lòng tìm việc.Chính sách tài khóa và đầu tư tư nhânVay nợ của chính phủ có lấn át đầu tư tư nhân không?Tìm hiểu vay nợ của chính phủ có thể tác động đến đầu tư tư nhân qua tiết kiệm, lãi suất, cầu và các dự án công nâng cao năng suất như thế nào, cũng như vì sao tác động phụ thuộc vào thời điểm và điều kiện.