Skip to content
Tất cả hướng dẫn quyền chọn
Thương mại quốc tếThời gian đọc: 12 phút

Tỷ lệ trao đổi thương mại và cán cân thương mại khác nhau thế nào?

Phân biệt giá tương đối của hàng xuất khẩu, nhập khẩu với chênh lệch giá trị thương mại và hiểu giới hạn của chỉ số ToT

Trong hướng dẫn này1. Trước hết, hãy tách hai câu hỏi

Tóm tắt ngắn

Tỷ lệ trao đổi thương mại, hay ToT, so sánh giá xuất khẩu với giá nhập khẩu theo một kỳ gốc được chọn. Cán cân thương mại lấy giá trị xuất khẩu trừ giá trị nhập khẩu trong một kỳ. Chỉ số ToT có thể cao hơn mức gốc trong khi cán cân vẫn âm, vì giá và lượng trả lời hai câu hỏi khác nhau.

1. Trước hết, hãy tách hai câu hỏi

Tỷ lệ trao đổi thương mại, viết tắt là ToT, mô tả giá của những gì một nền kinh tế bán ra nước ngoài so với giá của những gì nền kinh tế đó mua từ bên ngoài. Dạng chỉ số thường gặp lấy chỉ số giá xuất khẩu chia cho chỉ số giá nhập khẩu, cả hai được chuẩn hóa theo cùng một kỳ gốc. Chỉ số này hỏi: giá tương đối của rổ hàng xuất khẩu đã thay đổi ra sao so với rổ hàng nhập khẩu? Nó không cộng số giao dịch và cũng không đếm số thùng, tấn hay dịch vụ đã bán.

Cán cân thương mại trả lời câu hỏi khác: trong kỳ được chọn và theo phạm vi thống kê cụ thể, giá trị bằng tiền của xuất khẩu chênh lệch bao nhiêu so với giá trị nhập khẩu? Các giá trị này chịu ảnh hưởng của cả giá lẫn lượng hàng bán hoặc mua. Nếu xuất khẩu trị giá 960 đơn vị tiền tệ còn nhập khẩu trị giá 1.210, cán cân là −250, ngay cả khi chỉ số ToT vẫn cao hơn mức gốc. Hai kết quả khác nhau không tạo thành mâu thuẫn.

Hãy phân biệt giá, lượng và tổng giá trị. Giá mỗi đơn vị nhân với lượng cho giá trị của một luồng giao dịch; lấy hai giá trị trừ nhau cho cán cân thương mại. Tỷ số của hai chỉ số giá tóm tắt chuyển động giá tương đối của hai rổ hàng. Cụm từ “tỷ lệ trao đổi thương mại” đôi khi được dùng không chặt chẽ, vì vậy cần xem bảng đang nói về chỉ số giá, cán cân giá trị hay một khái niệm khác. Để xem bức tranh giao dịch đối ngoại rộng hơn, đọc bài phân biệt cán cân thương mại và tài khoản vãng lai; ở đó cũng cần xác định phạm vi của từng khoản trước khi so sánh.

2. Cách đọc chỉ số tỷ lệ trao đổi thương mại

Khi chỉ số giá xuất khẩu và nhập khẩu đều được chuẩn hóa bằng 100 trong cùng kỳ gốc, dạng chỉ số của tỷ lệ trao đổi thương mại được tính như sau:

ToT = 100 × chỉ số giá xuất khẩu ÷ chỉ số giá nhập khẩu.

Chẳng hạn, lấy 120 chia cho 110 rồi nhân 100 sẽ được khoảng 109,1. Một số chuỗi có thể biểu diễn cùng tỷ số dưới dạng cơ số 1 là 1,091. Nhân với 100 là cách trình bày, không phải ngưỡng kinh tế. Trong kỳ gốc, cả hai chỉ số giá được đặt bằng 100; vì thế 100 chia cho 100 rồi nhân 100 cho ra ToT bằng 100. [Sổ tay IMF về chỉ số giá xuất khẩu và nhập khẩu]({source:imfExportImportPriceIndexManual}) trình bày khái niệm và cách xây dựng các chỉ số giá quốc tế.

Giá trị 109,1 cho biết chỉ số giá xuất khẩu cao hơn chỉ số giá nhập khẩu khoảng 9,1% so với kỳ gốc chung, nếu vẫn giữ đúng phương pháp của chuỗi dữ liệu. Nó không nói rằng nhà xuất khẩu bán thêm 9,1% sản phẩm, hàng nhập khẩu giảm giá tuyệt đối bằng tiền hay đã xuất hiện thặng dư thương mại. Giá xuất khẩu có thể tăng, giá nhập khẩu có thể giảm, hoặc cả hai tăng nhưng với tốc độ khác nhau. Muốn biết trường hợp nào xảy ra, phải xem hai chỉ số thành phần chứ không chỉ nhìn tỷ số.

Cũng cần phân biệt mức chỉ số với hướng thay đổi. Nếu ToT giảm từ 110 xuống 107, giá trị 107 vẫn cao hơn kỳ gốc 100 nhưng điều kiện giá đã xấu đi so với quan sát trước. Nếu chỉ số tăng từ 100 lên 102, nó cải thiện so với kỳ gốc, nhưng điều đó không chứng minh mọi hộ gia đình hay doanh nghiệp đều giàu hơn. Ý nghĩa của mức phụ thuộc vào kỳ gốc và rổ chỉ số; ý nghĩa của biến động phụ thuộc vào các mốc thời gian được so sánh. [Chỉ báo tỷ lệ trao đổi thương mại của OECD]({source:oecdTermsOfTradeIndicator}) cũng là một chỉ số thống kê cần đọc theo phương pháp công bố, không phải số dư thương mại bằng tiền.

3. Ví dụ: tỷ số giá không phải là cán cân

Giả sử trong kỳ gốc, chỉ số giá xuất khẩu và nhập khẩu đều bằng 100. Trong kỳ sau mang tính giả định, chỉ số xuất khẩu bằng 120 còn chỉ số nhập khẩu bằng 110. Phép tính là 100 × 120 ÷ 110 = 109,09, làm tròn thành khoảng 109,1. Tỷ lệ trao đổi thương mại cao hơn mức của kỳ gốc chung khoảng 9,1%. Đây chỉ là mô tả biến động giá tương đối của hai rổ có thể so sánh.

Đại lượng giả địnhKỳ gốcKỳ tiếp theo
Chỉ số giá xuất khẩu100120
Chỉ số giá nhập khẩu100110
Tỷ lệ trao đổi thương mại, dạng chỉ số100109,1

Toàn bộ số liệu trong bảng được đặt ra để minh họa phép tính. Chúng không cho biết có bao nhiêu đơn vị hàng đã được xuất khẩu hay nhập khẩu, tổng giá trị hai luồng là bao nhiêu hoặc cán cân thương mại có bằng không hay không. Chúng cũng không cho biết giá tuyệt đối của một mặt hàng cụ thể; muốn biết điều đó cần mức giá, đơn vị tiền tệ, phạm vi hàng hóa và phương pháp tổng hợp. Ví dụ về giá trị ở phần sau đặt giá và lượng riêng; các tổng tiền trong ví dụ đó không được suy ra từ hai chỉ số này.

Ngay cả cách diễn giải đơn giản cũng đòi hỏi chỉ số xuất khẩu và nhập khẩu có kỳ gốc, phạm vi và kỳ thống kê tương thích. Nếu một chuỗi chỉ gồm hàng hóa còn chuỗi kia gồm cả hàng hóa và dịch vụ, phép chia sẽ tạo ra tỷ số giữa hai rổ khác nhau. Một thống kê như vậy vẫn có thể được công bố, nhưng khi so sánh phải mô tả rõ phạm vi. Chỉ số có thể được hiệu chỉnh khi trọng số hoặc ước tính nguồn thay đổi, nên hãy ghi lại nguồn dữ liệu, ngày công bố và phiên bản.

Hình khái niệm về cảng biển, cán cân và tàu chở hàng có kích cỡ khác nhau
Cảng biển, cán cân và tàu hàng khác cỡ gợi ý giá và lượng là hai khía cạnh riêng; hình không có dữ liệu hay so sánh quốc gia.

4. Cán cân bằng tiền bao gồm cả giá và lượng

Xét một ví dụ khác, hoàn toàn giả định, cho cùng một kỳ và cùng một đơn vị tiền tệ. Trong kỳ gốc, giá mỗi đơn vị của hàng xuất khẩu và hàng nhập khẩu đều là 100 đơn vị tiền tệ. Sang kỳ sau, giá mỗi đơn vị xuất khẩu pX là 120 và giá mỗi đơn vị nhập khẩu pM là 110; tỷ số giá tương ứng cho ToT khoảng 100 × 120 ÷ 110 = 109,1. Giờ giả định riêng lượng xuất khẩu qX là 8 và lượng nhập khẩu qM là 11. Giá trị xuất khẩu là 120 × 8 = 960; giá trị nhập khẩu là 110 × 11 = 1.210; cán cân bằng 960 − 1.210 = −250.

Luồng giao dịchGiá mỗi đơn vịSố lượngGiá trị
Xuất khẩu1208960
Nhập khẩu110111.210
Cán cân: xuất khẩu − nhập khẩu——−250

Tất cả giá, lượng và số tiền đều được dựng lên để minh họa, dùng cùng đơn vị tiền tệ và cùng kỳ. Cách nối ví dụ cho thấy giá tương đối có thể cho ra ToT khoảng 109,1, trong khi lượng được giả định riêng tạo ra cán cân −250. Chỉ số ToT không cung cấp các lượng 8 và 11, cũng không tự quyết định giá trị xuất nhập khẩu. Chỉ số ToT cao hơn mức gốc và cán cân thương mại âm có thể cùng đúng vì lượng nhập khẩu trong ví dụ lớn hơn.

Trong số liệu thực tế, rổ xuất khẩu và nhập khẩu có thể gồm hàng hóa, dịch vụ, hợp đồng và lịch giao hàng khác nhau. Tổng giá trị bằng tiền còn phụ thuộc vào quy đổi ngoại tệ, quy tắc định giá, thời điểm ghi nhận và phạm vi. Vì vậy, không nên lấy chỉ số ToT tổng hợp đã công bố nhân với một khối lượng giao dịch tùy ý để tính cán cân. Cần có giá trị và lượng ở các nhóm tương thích hoặc chuỗi giá trị tiền tệ được công bố.

5. Kiểm tra phạm vi của chỉ số trước khi so sánh

Tên gọi “tỷ lệ trao đổi thương mại” không bảo đảm các cơ sở dữ liệu sử dụng cùng một rổ. Theo bảng thuật ngữ BEA, thước đo của Mỹ bao gồm hàng hóa và dịch vụ; BEA cũng có các tỷ số riêng chỉ tính hàng hóa và loại trừ sản phẩm dầu mỏ. Khi dẫn một con số, cần nêu rõ đang nói đến chuỗi nào thay vì coi tất cả là một chỉ số duy nhất không điều kiện. Phạm vi này được mô tả trong [bảng thuật ngữ BEA về tỷ lệ trao đổi thương mại]({source:beaTermsOfTradeGlossary}).

Chỉ báo WDI TT.PRI.MRCH.XD.WD của Ngân hàng Thế giới là tỷ lệ trao đổi thương mại hàng hóa, tức phạm vi hàng hóa; nó không có cùng phạm vi với thước đo hàng hóa và dịch vụ được mô tả trong bảng thuật ngữ BEA. Siêu dữ liệu chuỗi nêu đơn vị và giới hạn phương pháp. Vì vậy hai giá trị cùng được gắn nhãn ToT có thể không so sánh trực tiếp được nếu một chuỗi chỉ có hàng hóa còn chuỗi kia bao gồm cả dịch vụ. [Siêu dữ liệu của Ngân hàng Thế giới cho chỉ số ToT hàng hóa]({source:worldBankMerchandiseTermsOfTradeMetadata}) giúp xác nhận ranh giới đó.

Hãy kiểm tra nhóm hàng nào được đưa vào, trọng số được gán ra sao, mặt hàng nào bị loại, kỳ nào làm mốc gốc và dữ liệu có được sửa đổi hay không. Một chuỗi có thể loại trừ một nhóm nguyên liệu thô nhất định, chỉ gồm hàng hóa hoặc gồm dịch vụ nếu tài liệu nói rõ. Khác biệt đó không khiến một chuỗi đúng còn chuỗi kia sai; mỗi chuỗi trả lời câu hỏi hẹp hơn hoặc rộng hơn. Sai sót phát sinh khi so sánh chúng như thể định nghĩa giống nhau mà không nói rõ.

OECD có định nghĩa chỉ báo và phương pháp riêng; không nên tự động gán cho chuỗi OECD phạm vi của BEA hay phạm vi hàng hóa của WDI. Trước khi so sánh giữa các nền kinh tế, hãy mở siêu dữ liệu của đúng chuỗi. Tên gọi giống nhau không chứng minh rổ hàng, trọng số, cách xử lý tiền tệ, tần suất hoặc phương pháp giống nhau.

6. Chỉ số giá và giá trị đơn vị không phải cùng một phép đo

Cơ quan thống kê có thể xây dựng chỉ số giá xuất nhập khẩu bằng nhiều cách. Họ có thể thu thập giá khảo sát của các sản phẩm có thể so sánh, tạo chỉ số giá trị đơn vị bằng giá trị trên mỗi đơn vị vật chất, hoặc kết hợp nhiều phương pháp. Vì vậy, gọi ToT là “chỉ số giá” không có nghĩa mọi cơ quan đo giá theo một cách duy nhất. Hãy đọc phương pháp của chuỗi đang dùng thay vì mặc định một quy trình thu thập giá chung.

Giá trị đơn vị đặc biệt cần được diễn giải thận trọng. Nếu trong tháng này tỷ trọng hàng xuất khẩu chuyển sang mẫu mã đắt hơn, chất lượng cao hơn hoặc quy cách khác, giá trị trung bình trên mỗi đơn vị có thể tăng dù giá của từng mặt hàng giống hệt không tăng. Ngược lại, việc chuyển sang các loại rẻ hơn có thể kéo chỉ số xuống dù giá của một rổ cố định không giảm tương ứng. Thay đổi cơ cấu sản phẩm có thể bị trộn vào chuyển động giá.

IMF xem xét riêng hạn chế của chỉ số giá trị đơn vị và việc xây dựng chỉ số giá xuất khẩu trong các tài liệu về phương pháp đo giá quốc tế. Có thể tham khảo [phần sổ tay IMF về chỉ số giá trị đơn vị xuất khẩu]({source:imfExportUnitValueManual}) cùng với [tài liệu IMF về chỉ số giá xuất nhập khẩu]({source:imfExportImportPriceIndexManual}). Các tài liệu này giúp phân biệt khái niệm giá cần đo với cách xấp xỉ thống kê có thể xây dựng từ dữ liệu. Việc một chuỗi được công bố không bảo đảm chất lượng và cơ cấu sản phẩm đã được giữ cố định hoàn toàn.

Khi đọc phương pháp, hãy hỏi: các mặt hàng giống nhau có được so sánh không, thay đổi chất lượng được xử lý thế nào, sản phẩm mới hoặc biến mất được tính ra sao, trọng số nào được sử dụng và chúng được cập nhật thường xuyên đến đâu? Nếu tài liệu cho biết chỉ số dựa trên giá trị đơn vị, đừng gọi nó là biến động giá thuần túy. Nếu dùng phương pháp hỗn hợp, hãy mô tả ngắn gọn điều đó thay vì khẳng định chỉ dùng giá khảo sát.

7. ToT tốt lên có thể và không thể nói lên điều gì

Khi lượng xuất khẩu cố định, giá tương đối của rổ hàng xuất khẩu tăng so với rổ nhập khẩu có nghĩa là, các yếu tố khác không đổi, nền kinh tế có thể mua được nhiều hàng nhập khẩu hơn bằng cùng lượng hàng xuất khẩu. Đây là nhận định có giới hạn về sức mua của luồng xuất khẩu xét theo giá. Nó hữu ích khi phân tích khả năng trao đổi, nhưng cần giữ giả định lượng xuất khẩu, phạm vi và các điều kiện khác không đổi.

Lượng nhập khẩu thực tế phụ thuộc vào thu nhập, nhu cầu, khả năng tiếp cận tài chính, nhu cầu đầu vào sản xuất, logistics, giá trong nước và nhiều yếu tố khác. ToT cải thiện không bảo đảm hộ gia đình mua nhiều hàng nhập khẩu hơn, thu nhập xuất khẩu được phân phối rộng rãi hơn hay phúc lợi tăng. Giá một nguyên liệu xuất khẩu có thể mang lại thu nhập cho một số nhóm trong khi làm tăng chi phí của doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu đó. Chỉ số tổng hợp các biến động bình quân, không cho thấy ai được lợi hoặc chịu thiệt.

Không thể suy ra trực tiếp tỷ giá từ ToT. Tỷ giá còn chịu tác động của lãi suất tương đối, kỳ vọng, dòng vốn, chính sách tiền tệ và tài khóa, rủi ro và những yếu tố khác. Ngay cả khi giá xuất khẩu tương đối thay đổi, điều đó không quy định nhu cầu ngoại tệ hay hướng đi duy nhất của tỷ giá. Cũng không có ngưỡng phổ quát mà trên 100 luôn là thặng dư hoặc điều kiện thuận lợi, còn dưới 100 luôn là thâm hụt hoặc bất lợi. Kỳ gốc là quy ước chuẩn hóa thống kê, không phải lời khuyên hay tín hiệu giao dịch.

Muốn biết cán cân thương mại, hãy xem giá trị xuất khẩu và nhập khẩu bằng tiền trong cùng kỳ và cùng phạm vi. Muốn phân biệt sản xuất trong nước với thu nhập của người cư trú, đọc bài GDP, GNI và GNP khác nhau thế nào. Chỉ số giá không thay thế cán cân thương mại bằng tiền hay các thước đo thu nhập quốc gia.

8. Trình tự thực tế để đọc một công bố

Bắt đầu từ tên chuỗi và đơn vị: chỉ số có kỳ gốc 100, tỷ số có kỳ gốc 1 và giá trị bằng tiền là các đại lượng khác nhau. Sau đó ghi lại hai chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu, kỳ gốc chung, tần suất và phạm vi. Kiểm tra dịch vụ có được tính không, nhóm hàng nào đại diện cho mỗi rổ và thay đổi trọng số có nghĩa gì. Chỉ tính tỷ số sau khi xác nhận các yếu tố đó, trừ khi tỷ số đã được công bố.

Tiếp theo, tách mức so với kỳ gốc khỏi biến động so với lần quan sát trước. Với kỳ gốc 100, mức 107 cho biết giá tương đối cao hơn mức gốc; chuyển động từ 110 xuống 107 cho biết điều kiện đã xấu đi so với quan sát liền trước. Ghi ngày công bố và khả năng số liệu quá khứ được điều chỉnh để tránh nhầm sửa đổi thống kê với thay đổi kinh tế. Không diễn giải một điểm chỉ số thành tỷ lệ tăng lượng xuất khẩu nếu không có chuỗi lượng riêng.

Cuối cùng, xác định câu hỏi cần trả lời. ToT phù hợp để theo dõi giá xuất khẩu tương đối so với giá nhập khẩu. Cán cân thương mại cần giá trị tiền ròng của xuất khẩu sau khi trừ nhập khẩu. Còn nghĩa vụ của chính phủ có thể được xem qua tỷ lệ nợ trên GDP; tỷ lệ này không được tính từ chỉ số tỷ lệ trao đổi thương mại. Tách bạch các khái niệm giúp dùng chỉ số giá trong phân tích mà không gán cho nó kết luận về thặng dư, phúc lợi xã hội hay tỷ giá.

Câu hỏi thường gặp

Q1ToT lớn hơn 100 có nghĩa là thặng dư thương mại không?

Không. Giá trị 100 thường là kỳ gốc của chỉ số và xuất hiện do chuẩn hóa. Thặng dư hay thâm hụt được xác định bằng giá trị xuất khẩu trừ giá trị nhập khẩu trong kỳ theo phạm vi đã chọn.

Q2ToT tăng thì đồng tiền chắc chắn mạnh lên không?

Không. Chỉ số giá tương đối không quy định tỷ giá. Lãi suất, kỳ vọng, chính sách tiền tệ và tài khóa, dòng vốn, rủi ro và các điều kiện khác cũng ảnh hưởng.

Q3Mọi chỉ số ToT đều dùng giá trị đơn vị phải không?

Không. Tùy chuỗi, cơ quan thống kê có thể dùng giá khảo sát, chỉ số giá trị đơn vị hoặc phương pháp kết hợp. Hãy kiểm tra siêu dữ liệu, nhất là cách xử lý thay đổi cơ cấu và chất lượng.

Nguồn và tài liệu đọc thêm

Báo lỗi

Chúng tôi sẽ soạn email kèm liên kết bài viết này. Mark chỉ nhận được báo cáo sau khi bạn gửi email

Kiểm tra nhanh

Đọc xong hướng dẫn? Hãy kiểm tra với 3 câu hỏi

Câu hỏi 1 / 3

Câu hỏi 01

Nếu chỉ số xuất khẩu là 120, chỉ số nhập khẩu là 110 và cùng có kỳ gốc 100, ToT xấp xỉ bao nhiêu?

Chọn một đáp án để xem giải thích

Bảng thuật ngữ quyền chọn