Skip to content
Tất cả hướng dẫn quyền chọn
Kinh tế quốc tếĐọc trong 10 phút

Cán cân vãng lai khác cán cân thương mại ở điểm nào?

Phân biệt cán cân thương mại với cán cân vãng lai; xem thu nhập, chuyển giao và số liệu thống kê làm thay đổi cách đọc ra sao

Trong hướng dẫn này1. Trước hết hãy xác định phạm vi của cán cân thương mại

Tóm tắt ngắn

Cán cân thương mại là giá trị xuất khẩu trừ nhập khẩu theo phạm vi mà chuỗi thống kê lựa chọn. Cán cân vãng lai rộng hơn: ngoài hàng hóa và dịch vụ, chỉ tiêu này còn gồm thu nhập sơ cấp và thu nhập thứ cấp, tức các khoản chuyển giao vãng lai. Hai loại thâm hụt có liên quan, nhưng không phải cùng một số liệu.

1. Trước hết hãy xác định phạm vi của cán cân thương mại

Ở dạng cơ bản, cán cân thương mại bằng giá trị xuất khẩu trừ giá trị nhập khẩu. Nhưng cần xem dữ liệu chỉ tính hàng hóa hay tính cả hàng hóa và dịch vụ. Thống kê hải quan thường ghi nhận hàng hóa qua biên giới; tài khoản quốc tế có thể tính thêm dịch vụ bán cho khách hàng nước ngoài và dịch vụ mua từ nước ngoài. Một dịch vụ cung cấp trực tuyến vẫn có thể là xuất khẩu dù không có kiện hàng đi qua cửa khẩu.

Vì thế câu “nền kinh tế này thâm hụt thương mại” thiếu thông tin nếu không kèm phạm vi, kỳ thống kê và nguồn. Các bảng có thể khác nhau về danh mục sản phẩm, cách định giá và thời điểm ghi nhận giao dịch. Giá trị khai báo hải quan không nhất thiết bằng số ghi trong cán cân thanh toán, kể cả khi nói về cùng hàng hóa. Phép trừ vẫn đơn giản; định nghĩa cho biết số nào được dùng. BEA giải thích riêng thương mại hàng hóa và dịch vụ cùng dòng thu nhập, chuyển giao trong [bài giới thiệu thương mại và đầu tư quốc tế]({source:beaInternationalTradeInvestment}).

2. Cán cân vãng lai có ba nhóm dòng giao dịch

Theo khung cán cân thanh toán, tài khoản vãng lai bao gồm hàng hóa và dịch vụ, thu nhập sơ cấp và thu nhập thứ cấp. Có thể tóm tắt bằng công thức:

Cán cân vãng lai = cán cân hàng hóa và dịch vụ + cán cân thu nhập sơ cấp + cán cân thu nhập thứ cấp.

Thu nhập sơ cấp phát sinh từ việc tham gia sản xuất hoặc sở hữu tài sản. Ví dụ gồm tiền công của người làm việc xuyên biên giới, lãi, cổ tức và thu nhập từ đầu tư trực tiếp. Một số khoản được ghi nhận theo thời điểm phát sinh quyền được nhận, thay vì đợi đến ngày tiền mặt thực sự đi qua biên giới. Thu nhập của một khoản đầu tư nước ngoài vì thế có thể xuất hiện trong kỳ dù chủ sở hữu chưa chuyển tiền về.

Thu nhập thứ cấp là các khoản chuyển giao trong kỳ mà người gửi không nhận hàng hóa, dịch vụ hay vốn đổi lại. Một số tiền gửi cá nhân và khoản hỗ trợ quốc tế thường xuyên có thể thuộc nhóm này. Tuy nhiên, không phải mọi giao dịch chuyển tiền xuyên biên giới đều là thu nhập thứ cấp: mục đích giao dịch và quy tắc phân loại quyết định cách ghi sổ. [Cẩm nang cán cân thanh toán BPM6 của IMF]({source:imfBpm6Manual}) trình bày khuôn khổ; [tài liệu khái niệm và phương pháp về tài khoản quốc tế của BEA]({source:beaInternationalAccountsConceptsMethods}) cho biết cách Hoa Kỳ phân loại các khoản mục.

Cán cân thương mại cho biết doanh số hàng hóa và dịch vụ xuất ra so với mua vào. Cán cân vãng lai cộng thêm thu nhập ròng từ lao động, tài sản và các khoản chuyển giao. Nếu chưa xem hai phần bổ sung này, không thể lấy cán cân thương mại làm đại diện cho toàn bộ tài khoản vãng lai.

3. Thu nhập và chuyển giao có thể đổi dấu của tổng số

Một nền kinh tế có thể nhập khẩu nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn xuất khẩu nên cán cân thương mại âm. Nếu người cư trú nhận nhiều thu nhập ròng từ tài sản ở nước ngoài, số dương của thu nhập sơ cấp có thể bù một phần hoặc bù hết thâm hụt thương mại. Chiều ngược lại cũng có thể xảy ra: xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu nhưng tài khoản vãng lai vẫn âm nếu tiền trả cho người không cư trú và dòng chuyển giao ròng ra ngoài vượt thặng dư thương mại.

Đây không phải nghịch lý vì mỗi dòng phản ánh một loại giao dịch. Thương mại đo hàng hóa và dịch vụ được mua bán. Thu nhập sơ cấp liên quan tiền công và lợi tức tài sản giữa người cư trú với người không cư trú. Thu nhập thứ cấp ghi nhận chuyển giao vãng lai. Các dòng này không cần có cùng dấu, nên tổng của chúng có thể khác dấu với cán cân thương mại.

Tổng tài khoản vãng lai cũng không cho biết riêng hộ gia đình, doanh nghiệp, ngân hàng hay chính phủ đang chi tiêu, tiết kiệm và đầu tư ra sao. Các khu vực có quyết định khác nhau, đồng thời có thể nhận thu nhập hoặc gánh nghĩa vụ đối ngoại. Muốn mô tả cấu trúc kinh tế cần xem dữ liệu theo khu vực và theo loại tài sản; một số dư chung không thể thay thế các thông tin đó.

Tàu chở hàng đi lại giữa hai cảng; quanh địa cầu là các luồng dịch vụ số, thu nhập và chuyển giao.
Hình khái niệm về thương mại hàng hóa, dịch vụ cùng các luồng thu nhập và chuyển giao trong tài khoản vãng lai; không có dữ liệu hay so sánh quốc gia.

4. Tính hai số dư bằng một ví dụ giả định

Giả sử trong cùng một kỳ, một nền kinh tế xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ trị giá 120 tỷ đô la, nhập khẩu 135 tỷ đô la. Thu nhập sơ cấp ròng là +6 tỷ: người cư trú nhận từ người không cư trú nhiều hơn số họ trả 6 tỷ. Thu nhập thứ cấp ròng là −1 tỷ: chuyển giao vãng lai ra nước ngoài vượt số nhận vào 1 tỷ. Tất cả con số đều được đặt ra để minh họa phép tính, không phải dữ liệu hiện hành hay dự báo của một quốc gia.

Khoản mụcSố giả định, tỷ đô la
Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ120
Nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ135
Cán cân thương mại: 120 − 135−15
Thu nhập sơ cấp ròng+6
Thu nhập thứ cấp ròng−1
Cán cân vãng lai: −15 + 6 − 1−10

Trước tiên tính thương mại: 120 − 135 = −15 tỷ đô la. Sau đó cộng hai khoản thu nhập ròng: −15 + 6 − 1 = −10 tỷ đô la. Cán cân vãng lai vẫn thâm hụt, nhưng thấp hơn thâm hụt thương mại 5 tỷ vì thu nhập sơ cấp và thứ cấp cộng lại bằng +5 tỷ.

Phép tính này không đánh giá nền kinh tế tốt hay xấu và không tự chỉ ra từng đô la chảy đến đâu. Nó chỉ minh họa cách cộng những mục cùng kỳ, cùng đơn vị và cùng phạm vi. Nếu chuỗi thương mại chỉ gồm hàng hóa còn tài khoản vãng lai tính cả dịch vụ, phải điều chỉnh phạm vi trước khi cộng.

5. Thặng dư thương mại vẫn có thể đi cùng thâm hụt vãng lai

Giả sử cán cân thương mại hàng hóa và dịch vụ là +4 tỷ đô la, còn thu nhập sơ cấp và thứ cấp ròng cộng lại là −7 tỷ. Khi đó cán cân vãng lai bằng +4 − 7 = −3 tỷ đô la. Thương mại thặng dư nhưng tổng tài khoản vãng lai thâm hụt.

Chẳng hạn, người cư trú có thể trả lợi tức tài sản cho nhà đầu tư nước ngoài nhiều hơn khoản họ nhận từ nước ngoài, trong khi chuyển giao vãng lai cũng chảy ra ròng. Các khoản này không làm thay đổi riêng cán cân hàng hóa và dịch vụ, nhưng chúng có mặt trong tài khoản vãng lai. Chiều ngược lại cũng đúng: nếu thu nhập và chuyển giao ròng đủ dương, thương mại thâm hụt vẫn có thể đi cùng vãng lai thặng dư.

Ví dụ này giúp tránh kết luận rằng “xuất khẩu vượt nhập khẩu nghĩa là quốc gia nhận ròng tiền từ nước ngoài”. Cán cân thương mại không tính tất cả thu nhập tài sản hoặc chuyển giao. Muốn hiểu con số tổng, hãy tách từng thành phần và đọc ghi chú về phạm vi, kỳ thống kê và cách ghi nhận trước khi giải thích nguyên nhân.

6. Thâm hụt vãng lai không phải thâm hụt ngân sách hay nợ công

Tài khoản vãng lai gộp giao dịch của mọi người cư trú với phần còn lại của thế giới. Thâm hụt ngân sách là chênh lệch thu và chi của chính phủ trong một kỳ. Nợ công là lượng nghĩa vụ chính phủ còn tồn tại tại một ngày. Ba chỉ tiêu nói về các chủ thể và khoảng thời gian khác nhau. Vì thế, thâm hụt vãng lai không đồng nghĩa chính phủ phải vay nước ngoài đúng bằng số đó.

Ví dụ, doanh nghiệp trong nước nhập thiết bị và có thể dùng tiền tích lũy, vay ngân hàng trong nước hoặc vay một chủ nợ nước ngoài. Nhập khẩu được ghi ở phần thương mại; khoản vay từ người không cư trú làm thay đổi nghĩa vụ tài chính xuyên biên giới và được ghi ở tài khoản tài chính. Nếu người vay là doanh nghiệp thì đó là nghĩa vụ của doanh nghiệp, không phải nợ công. Ví dụ không có nghĩa mỗi món hàng nhập khẩu được thanh toán bằng một khoản vay ngoại quốc mới.

Cán cân thanh toán dùng nguyên tắc ghi sổ kép: mỗi giao dịch có một bút toán ghi có và một bút toán ghi nợ. Khoản đối ứng của giao dịch trong tài khoản vãng lai có thể là một dòng khác trong chính tài khoản này, chẳng hạn hàng hóa cho tặng được ghi là xuất khẩu hàng hóa cùng với chuyển giao vãng lai; hoặc khoản đối ứng có thể nằm trong tài khoản vốn hay tài khoản tài chính. Tài khoản vốn bao gồm một số chuyển giao vốn và giao dịch tài sản phi tài chính không do sản xuất tạo ra; tài khoản tài chính theo dõi tài sản, nghĩa vụ tài chính xuyên biên giới. Vì vậy không đúng khi khẳng định mọi khoản mục vãng lai đều bắt buộc có bút toán đối ứng ở tài khoản vốn hoặc tài chính.

Cơ quan thống kê lấy số liệu cho từng phần từ những nguồn và lịch khác nhau nên các ước tính có thể không khớp hoàn toàn. Phần chênh lệch thống kê hoặc mục “sai số và bỏ sót ròng” giúp thể hiện khác biệt đó. Quy ước dấu trong tài khoản tài chính còn tùy cách trình bày. [Thông tin bổ sung của BEA về giao dịch quốc tế]({source:beaInternationalTransactionsAdditionalInfo}) giải thích cách công bố dữ liệu Hoa Kỳ. Nguyên tắc ghi sổ không chứng minh quan hệ nhân quả và cũng không ghép từng đô la thâm hụt với một khoản vay mới cụ thể.

7. Quan hệ tiết kiệm và đầu tư là đồng nhất thức ex post

Khi các định nghĩa trong tài khoản quốc gia khớp nhau, quan hệ thường được viết gần đúng là cán cân vãng lai ≈ tiết kiệm quốc gia − đầu tư trong nước. Nếu tiết kiệm quốc gia vượt đầu tư nội địa, chênh lệch tương ứng với việc nền kinh tế cho phần còn lại của thế giới vay ròng trong tài khoản tổng hợp. Nếu đầu tư vượt tiết kiệm, nền kinh tế có nhu cầu nguồn lực từ bên ngoài. [Nghiên cứu năm 2026 của IMF về cán cân vãng lai và tiết kiệm-đầu tư]({source:imfCurrentAccountSavingInvestment2026}) giải thích mối liên hệ này.

Muốn đối chiếu các số liệu, hãy dùng cùng kỳ, cùng phạm vi và cùng định nghĩa tiết kiệm, đầu tư. Cũng cần phân biệt tổng và ròng: tiết kiệm gộp chưa trừ hao mòn tài sản vốn, còn tiết kiệm ròng đã trừ phần này. So sánh hai cơ sở khác nhau có thể tạo ra chênh lệch kế toán dù dòng nguồn lực không đột ngột đổi hướng. Dữ liệu được cập nhật qua các đợt công bố cũng có thể làm các chuỗi độc lập không khớp hoàn toàn.

Ngay cả khi chuỗi dữ liệu đã khớp, đây vẫn là quan hệ ex post — đẳng thức trong tài khoản sau khi kỳ thống kê kết thúc. Nó không chứng minh tiết kiệm thấp là nguyên nhân của thâm hụt và không đưa ra yêu cầu tăng thuế, giảm chi hay hạn chế nhập khẩu. Đầu tư, nhân khẩu học, thu nhập từ tài sản nước ngoài và quyết định của khu vực tư nhân có thể cùng tác động nhưng qua những cơ chế khác nhau. Đồng nhất thức giúp tổ chức số liệu, không thay thế phân tích nhân quả hoặc lựa chọn chính sách.

8. Tỷ lệ trên GDP cho biết quy mô, không tự chấm điểm

Tỷ lệ cán cân vãng lai trên GDP so sánh số dư ròng với quy mô nền kinh tế. Ngân hàng Thế giới công bố [chỉ tiêu cán cân vãng lai tính theo phần trăm GDP]({source:worldBankCurrentAccountMetadata}) cùng siêu dữ liệu phương pháp. Tỷ lệ hữu ích khi so sánh các nền kinh tế khác quy mô, nhưng không tự động cho biết mức thâm hụt bền vững hay không. Cùng một tỷ lệ có thể đi kèm thời hạn nghĩa vụ, cơ cấu tiền tệ, lợi tức tài sản và khả năng tiếp cận vốn rất khác nhau.

Mẫu số cũng tác động đến kết quả: GDP danh nghĩa tăng hoặc tài khoản quốc gia được điều chỉnh có thể làm tỷ lệ thay đổi dù số dư vãng lai danh nghĩa ít đổi. Hãy kiểm tra giá hiện hành, đồng tiền, cách quy đổi số quý thành năm và phiên bản dữ liệu đang dùng. Tỷ lệ phần trăm GDP thể hiện quy mô tương đối, không phải dự báo khủng hoảng hay thước đo phúc lợi.

Tại Hoa Kỳ, BEA và Cục Thống kê Dân số công bố dữ liệu thương mại hàng hóa và dịch vụ hàng tháng, còn Tài khoản Giao dịch Quốc tế được công bố theo quý. Khi đối chiếu, căn chỉnh khu vực, kỳ, cơ sở giá, bản điều chỉnh và định nghĩa chuỗi. Tổng ba tháng có thể khác số quý của tài khoản quốc tế nếu lịch ghi nhận, điều chỉnh mùa vụ, quy đổi năm hoặc phiên bản dữ liệu khác nhau ([giải thích thương mại của BEA]({source:beaInternationalTradeInvestment}); [thông tin công bố giao dịch quốc tế]({source:beaInternationalTransactionsAdditionalInfo})).

Để tách sản lượng trong nước khỏi thu nhập thuộc về người cư trú, đọc bài GDP, GNI và GNP khác nhau thế nào. Bài về thâm hụt ngân sách và nợ công nói về tài khóa; bài hệ số nhân tài khóa là gì bàn về phản ứng có thể có của sản lượng khi chi tiêu công thay đổi. Đây là các câu hỏi bổ sung, không làm thay đổi định nghĩa cán cân đối ngoại.

Câu hỏi thường gặp

Q1Thâm hụt thương mại có luôn đồng nghĩa với thâm hụt vãng lai không?

Không. Cán cân vãng lai còn có thu nhập sơ cấp và thứ cấp ròng. Nếu các khoản này dương đủ lớn, chúng có thể bù phần thâm hụt thương mại. Nếu thu nhập và chuyển giao chảy ra ròng, thặng dư thương mại vẫn có thể cùng tồn tại với thâm hụt vãng lai.

Q2Thâm hụt vãng lai có phải là nợ công không?

Không. Tài khoản vãng lai ghi giao dịch xuyên biên giới của toàn bộ người cư trú trong một kỳ; nợ công là nghĩa vụ của chính phủ còn tồn tại tại một ngày. Thâm hụt vãng lai không bằng thâm hụt ngân sách hoặc khoản vay mới của nhà nước.

Q3Tỷ lệ thâm hụt trên GDP cao có nghĩa là sắp xảy ra khủng hoảng không?

Không thể kết luận chỉ từ tỷ lệ đó. Tỷ lệ cho biết quy mô tương đối nhưng không cho thấy cấu trúc, kỳ hạn, đồng tiền hay lợi tức của tài sản và nghĩa vụ đối ngoại. Cần xem các thành phần cùng bối cảnh kinh tế rộng hơn.

Nguồn và tài liệu đọc thêm

Báo lỗi

Chúng tôi sẽ soạn email kèm liên kết bài viết này. Mark chỉ nhận được báo cáo sau khi bạn gửi email

Kiểm tra nhanh

Đọc xong hướng dẫn? Hãy kiểm tra với 3 câu hỏi

Câu hỏi 1 / 3

Câu hỏi 01

Ngoài thương mại hàng hóa và dịch vụ, tài khoản vãng lai còn có khoản nào?

Chọn một đáp án để xem giải thích

Bảng thuật ngữ quyền chọn

Định nghĩa rõ ràng về các thuật ngữ cốt lõi, từ call, put và chuỗi quyền chọn đến IV, Greeks, lãi suất mở và max pain

Xem bảng thuật ngữ quyền chọn