Skip to content
Tất cả hướng dẫn quyền chọn
Năng suất, thù lao và giá cảĐọc khoảng 10 phút

Vì sao năng suất có thể tăng nhanh hơn tiền công? Chỉ số giảm phát và tỷ trọng lao động

Tìm hiểu vì sao năng suất và thù lao thực tăng khác tốc độ, cùng vai trò của CPI, chỉ số giá đầu ra và tỷ trọng thu nhập lao động.

Trong hướng dẫn nàyKhoảng cách giữa năng suất và thù lao có nghĩa là gì?

Tóm tắt ngắn

Năng suất và thù lao đã điều chỉnh theo giá có thể cùng tăng nhưng không nhất thiết tăng cùng tốc độ. Kết quả so sánh một phần tùy thuộc vào chỉ số giá dùng để điều chỉnh thù lao và tỷ trọng thu nhập từ sản xuất thuộc về lao động thay đổi ra sao. Khoảng cách năng suất–thù lao mô tả các chỉ tiêu tổng hợp theo định nghĩa cụ thể; nó không cho biết từng người lao động nhận được bao nhiêu hay vì sao các chỉ tiêu chênh lệch.

Khoảng cách giữa năng suất và thù lao có nghĩa là gì?

Năng suất lao động đo sản lượng thực trên mỗi giờ làm việc. Thù lao mỗi giờ đo chi phí lao động cho một giờ, gồm tiền lương và phúc lợi. Muốn so sánh thù lao qua thời gian, cần điều chỉnh số tiền danh nghĩa theo một chỉ số giá để có giá trị thực. Khoảng cách xuất hiện khi tốc độ tăng của năng suất và thù lao thực tính theo cách đã chọn khác nhau trong khoảng thời gian đang xét.

“Thực” không chỉ một phép tính duy nhất. Điều chỉnh thù lao bằng Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cho biết thù lao thay đổi thế nào so với giá người tiêu dùng phải trả và sức mua. Điều chỉnh bằng chỉ số giảm phát giá đầu ra so sánh thù lao với giá của hàng hóa, dịch vụ do ngành đó sản xuất. Cả hai cách đều có thể phù hợp, nhưng trả lời những câu hỏi khác nhau.

Cục Thống kê Lao động Hoa Kỳ (BLS) đã phân tích dữ liệu theo ngành trong giai đoạn 1987–2015 và tách khoảng cách đo được thành phần do chỉ số giảm phát giá và phần do tỷ trọng lao động. Khung này giúp giải thích phép tính; mẫu lịch sử đó không phải ước tính hiện tại cho mọi người lao động, ngành hay quốc gia. Xem phạm vi trong phân tích của BLS về khoảng cách năng suất–thù lao.

CPI và chỉ số giảm phát giá đầu ra trả lời những câu hỏi khác nhau

CPI theo dõi giá người tiêu dùng trả cho một giỏ hàng hóa và dịch vụ được xác định. Chỉ số này hữu ích khi muốn biết thù lao có cải thiện sức mua đối với hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng hay không. Chi tiêu của từng hộ gia đình có thể khác giỏ trung bình, nên thù lao bình quân đã điều chỉnh bằng CPI vẫn không phải thước đo chi phí sinh hoạt riêng của một cá nhân.

Chỉ số giảm phát giá đầu ra theo dõi giá hàng hóa hoặc dịch vụ do một ngành hay khu vực sản xuất. Chỉ số này hữu ích khi so sánh giá trị sản xuất với thù lao đã trả để tạo ra sản lượng đó. BLS phân biệt chỉ số giảm phát giá tiêu dùng, giá đầu ra theo giá trị gia tăng và giá đầu ra theo ngành. Hướng dẫn tính toán của BLS định nghĩa riêng thù lao thực mỗi giờ, chỉ số giảm phát giá đầu ra và tỷ trọng lao động.

Chỉ số giá GDP của Cục Phân tích Kinh tế Hoa Kỳ (BEA) đo rộng giá hàng hóa, dịch vụ được sản xuất tại Hoa Kỳ. Chỉ số bao gồm hàng xuất khẩu và loại trừ hàng nhập khẩu, trong khi chỉ số giá tiêu dùng tập trung vào những gì người tiêu dùng mua. Vì vậy, chỉ số giá GDP không mặc nhiên là chỉ số giảm phát đầu ra cấp ngành phù hợp với mọi phép so sánh năng suất. Định nghĩa chỉ số giá GDP của BEA nêu rõ phạm vi sản xuất này.

Ví dụ giả định cho thấy lựa chọn chỉ số làm thay đổi khoảng cách ra sao

Xét một khu vực giả định đo theo giá trị gia tăng, trong đó phạm vi sản lượng, thù lao và giờ làm được khớp với nhau. Ở thời điểm đầu, sản lượng thực là 100 đơn vị mỗi giờ, chỉ số giá đầu ra và CPI đều bằng 100, giá trị gia tăng danh nghĩa là 100 USD mỗi giờ, còn thù lao lao động mỗi giờ là 60 USD. Tỷ trọng lao động khi đó là 60%. Mọi khoản tiền bằng đô la trong ví dụ giả định này đều là đô la Mỹ (USD).

Ở thời điểm sau, sản lượng mỗi giờ tăng 5% lên 105 đơn vị. Chỉ số giá đầu ra tăng 1% lên 101, nên giá trị gia tăng danh nghĩa mỗi giờ là 105 × 1,01 = 106,05 USD. Giả sử tỷ trọng lao động giảm 1% theo tỷ lệ, từ 60% xuống 59,4%. Khi đó thù lao mỗi giờ xấp xỉ 106,05 × 0,594 = 62,99 USD. CPI tăng 3% lên 103, nên thù lao tính bằng USD theo mặt bằng giá ở thời điểm đầu xấp xỉ 62,99 ÷ 1,03 = 61,16 USD, tăng 1,93% so với 60 USD.

Sau khi điều chỉnh bằng CPI, năng suất tăng 5% còn thù lao thực tăng 1,93%; chênh lệch đơn giản giữa hai tốc độ tăng khoảng 3,07 điểm phần trăm. Nếu dùng chỉ số giảm phát giá đầu ra, số tiền tính theo USD ở thời điểm đầu dựa trên mức thù lao chưa làm tròn là 106,05 × 0,594 ÷ 1,01 ≈ 62,37 USD, tăng 3,95%; khoảng cách năng suất–thù lao thu hẹp còn khoảng 1,05 điểm phần trăm. Các đầu vào này được giả định để minh họa tác động của lựa chọn chỉ số, không phải số liệu do BLS hay BEA công bố.

Trong một kịch bản giả định khác, giữ tỷ trọng lao động cố định ở mức 60% thay vì để tỷ trọng này giảm. Thù lao danh nghĩa khi đó là 106,05 × 0,60 = 63,63 USD. Sau khi điều chỉnh bằng chỉ số giá đầu ra, số tiền theo mặt bằng giá ở thời điểm đầu là 63,63 ÷ 1,01 = 63,00 USD, tăng 5%, bằng mức tăng năng suất nên không còn khoảng cách theo giá đầu ra. Nếu điều chỉnh bằng CPI, thù lao là 63,63 ÷ 1,03 ≈ 61,78 USD, tăng 2,96%; khoảng cách theo CPI còn khoảng 2,04 điểm phần trăm. Đây cũng là một so sánh giả định, không phải số liệu quan sát.

Hai phép so sánh dùng CPI và chỉ số giảm phát giá đầu ra chênh nhau khoảng 2,02 điểm phần trăm. Khoảng cách còn lại khi dùng giá đầu ra gần với mức giảm theo tỷ lệ của tỷ trọng lao động. Sai khác nhỏ xuất hiện vì hiệu giữa các tốc độ tăng phần trăm thông thường không phải lúc nào cũng cộng chính xác. Phân rã theo tốc độ tăng log cho một đồng nhất thức kế toán chính xác khi các định nghĩa tương thích.

Tỷ trọng lao động theo dõi phần thu nhập sản xuất thuộc về lao động

Với thước đo sản lượng theo giá trị gia tăng, tỷ trọng lao động bằng thù lao lao động chia cho sản lượng giá trị gia tăng danh nghĩa. Theo định nghĩa kế toán đó, tỷ lệ này tóm tắt phần thu nhập từ sản xuất được ghi nhận cho lao động. Nếu năng suất tăng trong khi thù lao lao động tăng chậm hơn sản lượng danh nghĩa, tỷ trọng lao động có thể giảm và thù lao đã điều chỉnh theo giá đầu ra có thể tăng chậm hơn năng suất.

Đây là quan hệ kế toán, chưa phải lời giải thích đầy đủ về nguyên nhân. Tỷ trọng lao động có thể thay đổi theo cơ cấu ngành, cách tổ chức doanh nghiệp, giá tương đối, cách tính lao động tự doanh và những thành phần khác của thu nhập sản xuất. Tỷ trọng tổng hợp giảm không tự cho biết yếu tố nào thay đổi hay thu nhập chuyển đến hộ gia đình nào. Nghiên cứu của BLS về tỷ trọng lao động trình bày các lựa chọn đo lường và lý do không nên xem các chuỗi có phạm vi khác nhau là tương đương.

Đừng giả định mọi chỉ tiêu tỷ trọng lao động được công bố đều dùng cùng mẫu số. Với một số thước đo, BLS dùng sản lượng giá trị gia tăng; với một số ngành chi tiết, cơ quan này dùng ranh giới sản lượng và chi phí khác. Tỷ số phải khớp với khái niệm sản lượng và ngành đang phân tích. Không thể lấy tỷ trọng từ một chuỗi thay vào công thức xây dựng cho chuỗi khác nếu chưa kiểm tra định nghĩa.

Một công nhân làm đồ gốm đứng cạnh băng chuyền chở thành phẩm; một khách hàng cầm giỏ và các mũi tên nối một chồng xu với hai chồng gần người lao động và máy móc.
Cảnh khái niệm về sản xuất và phân chia giá trị. Các chồng xu chỉ mang tính biểu tượng; kích thước của chúng không phải số liệu đo lường hay ước tính tỷ trọng thu nhập từ sản xuất thuộc về lao động.

Hai thành phần kết nối trong một đồng nhất thức tăng trưởng log

Với sản lượng giá trị gia tăng có định nghĩa tương thích, gọi P là năng suất lao động, R là thù lao mỗi giờ đã điều chỉnh bằng CPI, CPI là chỉ số giá tiêu dùng, Pₒ là chỉ số giảm phát giá đầu ra và s là tỷ trọng lao động. Tỷ số giữa năng suất và thù lao thực đã điều chỉnh bằng CPI bằng tỷ số CPI trên chỉ số giảm phát giá đầu ra, chia cho tỷ trọng lao động. Lấy biến thiên của logarit tự nhiên, ta có:

Δln(P) − Δln(R) = Δln(CPI) − Δln(Pₒ) − Δln(s)

Nói đơn giản, thay đổi của CPI so với giá đầu ra đóng góp một phần; thay đổi của tỷ trọng lao động đóng góp phần còn lại. Khi tỷ trọng lao động giảm, Δln(s) âm, nên trừ giá trị đó làm khoảng cách năng suất–thù lao đo được lớn hơn. Khi tốc độ nhỏ, biến thiên log gần với phần trăm thay đổi thông thường; đồng nhất thức chính xác dùng các biến thiên log khớp phạm vi.

Công thức này là phép phân rã kế toán, không phải mô hình dự báo tiền lương hay xác định nguyên nhân. Công thức đòi hỏi các chuỗi tương thích về kỳ đo, giờ làm, nhóm lao động và ranh giới sản xuất giá trị gia tăng. Nếu dùng sản lượng ngành, nhóm lao động khác hoặc các kỳ không trùng nhau, cần định nghĩa phù hợp với những thước đo đó.

Thù lao tổng hợp không phải phiếu lương của mọi người lao động

Thù lao mỗi giờ của BLS là thước đo tổng hợp. Tùy chuỗi dữ liệu, chỉ tiêu có thể gồm tiền lương, tiền công, phúc lợi do chủ sử dụng lao động chi trả và khoản thù lao ước tính cho chủ cơ sở kinh doanh. Cơ cấu người lao động, giờ làm, ngành và phúc lợi có thể thay đổi theo thời gian. Vì vậy, thù lao bình quân có thể biến động khác thu nhập của một người, một nghề hay người lao động trung vị.

Năng suất cũng là tỷ số tổng hợp giữa sản lượng và số giờ làm, không phải điểm đánh giá hiệu suất cá nhân. Bên cạnh lao động, chỉ tiêu còn phản ánh vốn, công nghệ, nguyên liệu, mức sử dụng công suất, quản lý, cơ cấu lao động và các đầu vào khác. Sản lượng mỗi giờ tăng không chứng minh từng nhân viên đều làm việc hiệu quả hơn ở cùng mức, cũng không chứng minh một chính sách lương cụ thể gây ra thay đổi đó.

Khi hỏi về sức mua của người lao động, hãy chọn thước đo tiền công thực có nhóm dân số và chỉ số giảm phát phù hợp với câu hỏi. Khi hỏi về chi phí sản xuất, hãy so thù lao với sản lượng bằng một thước đo phía nhà sản xuất tương thích. Khi hỏi về phân phối, hãy xem tỷ trọng lao động và các chỉ tiêu thu nhập khác có phạm vi rõ ràng. Những góc nhìn này bổ sung cho nhau, nhưng không góc nào tự trả lời được cả ba câu hỏi.

So sánh cẩn trọng bắt đầu từ phạm vi và thời điểm

Trước khi trích dẫn một khoảng cách, hãy ghi rõ thước đo sản lượng, thù lao, chỉ số giá, cách xác định giờ làm, nhóm lao động, ngành và kỳ đo. Kiểm tra tốc độ tăng là theo quý, theo quý nhưng quy đổi thành tốc độ năm, so với cùng kỳ năm trước hay tích lũy trong nhiều năm. Quy đổi tốc độ quý thành năm giả định nhịp tăng kép đó kéo dài suốt một năm; đây không phải thay đổi thực tế quan sát được trong cả năm.

Mức chỉ số cũng cần bối cảnh. Đổi năm gốc của chỉ số giá hay năng suất về 100 chỉ thay điểm tham chiếu, không thay đổi sự kiện kinh tế. Chỉ so sánh tốc độ tăng giữa các chỉ số sau khi đã khớp kỳ và phép biến đổi. Phương pháp BLS có thể điều chỉnh lại ước tính sản lượng, giờ làm và thù lao khi dữ liệu nguồn được cập nhật; nếu con số cụ thể quan trọng, hãy ghi rõ báo cáo hoặc phiên bản dữ liệu được trích dẫn.

Cuối cùng, cần phân biệt chỉ số giá GDP rộng của Hoa Kỳ với chỉ số giảm phát đầu ra theo ngành và CPI. Chỉ số GDP bao phủ sản xuất trong nước, gồm xuất khẩu và không gồm nhập khẩu. CPI phản ánh những gì người tiêu dùng mua. Không chỉ số nào là lựa chọn thay thế phổ quát cho mọi quốc gia hoặc ngành.

Khoảng cách cho biết điều gì và không chứng minh điều gì?

Khoảng cách năng suất–thù lao có thể mô tả sản lượng mỗi giờ tổng hợp và chuỗi thù lao thực được chọn đã thay đổi tương quan ra sao. Tách phần do chỉ số giảm phát giá và tỷ trọng lao động giúp người đọc hiểu vì sao phép so sánh dùng CPI và giá phía nhà sản xuất cho kết quả khác nhau.

Chỉ riêng khoảng cách không chứng minh rằng mọi người lao động đều bị lấy mất thành quả năng suất, một công nghệ cụ thể khiến tiền công tăng chậm, hay người tiêu dùng phải chịu một mức lạm phát nhất định. Kết quả phụ thuộc vào chỉ số giá, ranh giới thống kê, cách tổng hợp và thời điểm. Phân tích ngành giai đoạn 1987–2015 của BLS hữu ích để hiểu cách phân rã, nhưng không khẳng định một xu hướng phổ quát hiện nay.

Câu hỏi thường gặp

Q1Năng suất tăng có tự động làm tiền lương tăng không?

Chỉ số năng suất tự nó không đặt ra quy tắc tiền lương phải tăng một-một. Năng suất có thể hỗ trợ sản lượng và thu nhập cao hơn, nhưng thù lao đo được còn phụ thuộc chỉ số giảm phát giá, tỷ trọng lao động, cơ cấu người lao động, phúc lợi và kỳ so sánh.

Q2Vì sao thù lao điều chỉnh bằng CPI có thể tăng chậm hơn thù lao điều chỉnh bằng giá đầu ra?

CPI và chỉ số giảm phát giá đầu ra theo dõi những mức giá khác nhau. Nếu giá tiêu dùng tăng nhanh hơn giá đầu ra của ngành, CPI sẽ loại trừ phần tăng của thù lao danh nghĩa nhiều hơn so với chỉ số giá đầu ra.

Q3Tỷ trọng lao động giảm có nghĩa là mọi người lao động đều kiếm được ít hơn không?

Không. Tỷ trọng lao động là tỷ số tổng hợp theo một định nghĩa sản lượng cụ thể. Tỷ số này có thể giảm trong khi thù lao của một số người tăng, và không cho biết thu nhập phân bố thế nào giữa các hộ gia đình hoặc nghề nghiệp.

Nguồn và tài liệu đọc thêm

Báo lỗi

Chúng tôi sẽ soạn email kèm liên kết bài viết này. Mark chỉ nhận được báo cáo sau khi bạn gửi email

Kiểm tra nhanh

Đọc xong hướng dẫn? Hãy kiểm tra với 3 câu hỏi

Câu hỏi 1 / 3

Câu hỏi 01

Thù lao điều chỉnh bằng CPI trực tiếp trả lời câu hỏi nào nhất?

Chọn một đáp án để xem giải thích

Bảng thuật ngữ quyền chọn